Search engine for discovering works of Art, research articles, and books related to Art and Culture
ShareThis
Javascript must be enabled to continue!

Tổng Quan Chỉ Số Đánh Giá Nuôi Dưỡng Trẻ 6 - 36 Tháng Tuổi

View through CrossRef
Tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn ở mức cao, chiếm tỷ lệ 19,6%, trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất ở nhóm tuổi 24 - 36 tháng tuổi với gần 25% (năm 2020). Thực hành nuôi dưỡng trẻ em được xác định làyếu tố tác động trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra bộ chỉ số đánh giá nuôi dưỡng trẻ bú mẹ và thực hành cho trẻ ăn dặm từ 0 - 24 tháng tuổi (Infant and young child feeding indicators - IYCF), bộ chỉ số này đang được sử dụng ở Việt Nam trong các cuộc điều tra dinh dưỡng ở quy mô lớn. Tuy nhiên, bộ chỉ số IYCF vẫn còn điểm hạn chế trong giới hạn độ tuổi đánh giá và tổng hợp các thông tin nuôi dưỡng của từng trẻ. Chỉ số đánh giá nuôi dưỡng trẻ từ 6 - 36 tháng (Infant and young child feeding index - ICFI) được Ruel và Menon đề xuất năm 2002 tính đến nay đã được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá nuôi dưỡng trẻ nhỏ ở các nước Mỹ Latin, Châu Phi, Trung Quốc, Thái Lan… trên nhiều quy mô khác nhau. Việc sử dụng chỉ số ICFI có thể mở ra các hướng tiếp cận mới trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu điều tra đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ 6 - 36 tháng tuổi tại Việt Nam để đề ra các giải pháp can thiệp hiệu quả đến quá trình nuôi dưỡng trẻ. Abstract The rate of stunting malnourished children under five years old in Vietnam is still high, accounting for 19.6%, of which the rate of stunting is highest in the age group of 24 - 36 months with nearly 25 % (in 2020). Child feeding practices are identified as factors that directly affect the nutritional status of children. In 2009, World Health Organization (WHO) released a set of indicators to assess breastfeeding and practice of weaning for children from 0 - 24 months of age (Infant and young child feeding indicators - IYCF), this indicator is being used in Vietnam in large scale nutrition surveys. However, the IYCF set of indicators still has limitations in terms of age limits for assessing and synthesizing nurturing information for each child. The Infant and Young Child Feeding Index (ICFI) was proposed by Ruel and Menon in 2002 and has been widely used in studies assessing infant feeding in Latin American countries, Africa, China, Thailand,... on many different scales. Using the ICFI index can open up new approaches in studies assessing the current situation of children feeding 6 - 36 months old in Vietnam to propose effective interventions to the child feeding process.
Title: Tổng Quan Chỉ Số Đánh Giá Nuôi Dưỡng Trẻ 6 - 36 Tháng Tuổi
Description:
Tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thấp còi vẫn còn ở mức cao, chiếm tỷ lệ 19,6%, trong đó tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất ở nhóm tuổi 24 - 36 tháng tuổi với gần 25% (năm 2020).
Thực hành nuôi dưỡng trẻ em được xác định làyếu tố tác động trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra bộ chỉ số đánh giá nuôi dưỡng trẻ bú mẹ và thực hành cho trẻ ăn dặm từ 0 - 24 tháng tuổi (Infant and young child feeding indicators - IYCF), bộ chỉ số này đang được sử dụng ở Việt Nam trong các cuộc điều tra dinh dưỡng ở quy mô lớn.
Tuy nhiên, bộ chỉ số IYCF vẫn còn điểm hạn chế trong giới hạn độ tuổi đánh giá và tổng hợp các thông tin nuôi dưỡng của từng trẻ.
Chỉ số đánh giá nuôi dưỡng trẻ từ 6 - 36 tháng (Infant and young child feeding index - ICFI) được Ruel và Menon đề xuất năm 2002 tính đến nay đã được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá nuôi dưỡng trẻ nhỏ ở các nước Mỹ Latin, Châu Phi, Trung Quốc, Thái Lan… trên nhiều quy mô khác nhau.
Việc sử dụng chỉ số ICFI có thể mở ra các hướng tiếp cận mới trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu điều tra đánh giá thực hành nuôi dưỡng trẻ 6 - 36 tháng tuổi tại Việt Nam để đề ra các giải pháp can thiệp hiệu quả đến quá trình nuôi dưỡng trẻ.
Abstract The rate of stunting malnourished children under five years old in Vietnam is still high, accounting for 19.
6%, of which the rate of stunting is highest in the age group of 24 - 36 months with nearly 25 % (in 2020).
Child feeding practices are identified as factors that directly affect the nutritional status of children.
In 2009, World Health Organization (WHO) released a set of indicators to assess breastfeeding and practice of weaning for children from 0 - 24 months of age (Infant and young child feeding indicators - IYCF), this indicator is being used in Vietnam in large scale nutrition surveys.
However, the IYCF set of indicators still has limitations in terms of age limits for assessing and synthesizing nurturing information for each child.
The Infant and Young Child Feeding Index (ICFI) was proposed by Ruel and Menon in 2002 and has been widely used in studies assessing infant feeding in Latin American countries, Africa, China, Thailand,.
on many different scales.
Using the ICFI index can open up new approaches in studies assessing the current situation of children feeding 6 - 36 months old in Vietnam to propose effective interventions to the child feeding process.

Related Results

NGHIÊN CỨU CHUYỂN NGỮ THANG ĐO FLACC SANG TIẾNG VIỆT TRONG ĐÁNH GIÁ ĐAU SAU MỔ CHO TRẺ DƯỚI 3 TUỔI
NGHIÊN CỨU CHUYỂN NGỮ THANG ĐO FLACC SANG TIẾNG VIỆT TRONG ĐÁNH GIÁ ĐAU SAU MỔ CHO TRẺ DƯỚI 3 TUỔI
Đặt vấn đề: Thang đo FLACC là thang đo phổ biến để đánh giá mức độ đau của những trẻ dưới 3 tuổi hoặc trẻ có khiếm khuyết chức năng thần kinh trên thế giới và cả ở Việt Nam. Chưa c...
TƯƠNG QUAN MẶT PHẲNG TẬN CÙNG RĂNG CỐI SỮA THỨ HAI DẠNG THẲNG HAY DẠNG BẬC XUỐNG GẦN LÀ TƯƠNG QUAN LÝ TƯỞNG Ở BỘ RĂNG SỮA?
TƯƠNG QUAN MẶT PHẲNG TẬN CÙNG RĂNG CỐI SỮA THỨ HAI DẠNG THẲNG HAY DẠNG BẬC XUỐNG GẦN LÀ TƯƠNG QUAN LÝ TƯỞNG Ở BỘ RĂNG SỮA?
Đặt vấn đề: Ở bộ răng sữa, có ba dạng tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai là dạng thẳng, dạng bậc xuống gần và dạng bậc xuống xa. Trong đó, tương quan dạng thẳng đượ...
Tổng quan về cắt thực quản hiện đại
Tổng quan về cắt thực quản hiện đại
Tóm tắt Mục tiêu: Trình bày tổng quan về cắt thực quản thời hiện đại. Năm 1913, Franz John Torek (1861-1938) người Đức làm việc tại bệnh viện Lenox Hill, Newyork City, là người ...
SO SÁNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG GIỮA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SIÊU THÂM CANH VÀ THÂM CANH – BÁN THÂM CANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
SO SÁNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG GIỮA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SIÊU THÂM CANH VÀ THÂM CANH – BÁN THÂM CANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
Hoạt động nuôi tôm siêu thâm canh (STC) ngày càng mở rộng trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, một trong những thủ phủ của ngành nuôi tôm cả nước, dẫn đến quá trình chuyển đổi giữa các mô h...
Hậu quả lâm sàng của sâu răng sữa không điều trị ở trẻ mầm non tại Quận Ninh Kiều của thành phố Cần Thơ
Hậu quả lâm sàng của sâu răng sữa không điều trị ở trẻ mầm non tại Quận Ninh Kiều của thành phố Cần Thơ
Đặt vấn đề: Sâu răng tuổi mầm non (ECC) làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của trẻ nhỏ nếu không được dự phòng hay can thiệp kịp thời. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tình tr...
THỰC TRẠNG NUÔI DƯỠNG BỆNH NHI SAU PHẪU THUẬT VIÊM PHÚC MẠC RUỘT THỪA TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
THỰC TRẠNG NUÔI DƯỠNG BỆNH NHI SAU PHẪU THUẬT VIÊM PHÚC MẠC RUỘT THỪA TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Chương trình chăm sóc phục hồi sớm sau phẫu thuật được các Hiệp hội dinh dưỡng có uy tín khuyến nghị trong đó nhấn mạnh đến tầm quan trong của việc nuôi ăn sớm đường tiêu hoá. Tuy ...

Back to Top