Javascript must be enabled to continue!
TƯƠNG QUAN MẶT PHẲNG TẬN CÙNG RĂNG CỐI SỮA THỨ HAI DẠNG THẲNG HAY DẠNG BẬC XUỐNG GẦN LÀ TƯƠNG QUAN LÝ TƯỞNG Ở BỘ RĂNG SỮA?
View through CrossRef
Đặt vấn đề: Ở bộ răng sữa, có ba dạng tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai là dạng thẳng, dạng bậc xuống gần và dạng bậc xuống xa. Trong đó, tương quan dạng thẳng được xem là dạng bình thường và là một trong những yếu tố của “khớp cắn lý tưởng” ở bộ răng sữa. Tuy nhiên, vẫn có tỉ lệ cao từ 20-50% chuyển thành tương quan R6 hạng II bất thường ở bộ răng vĩnh viễn. Chính vì thế, có nhiều tác giả cho rằng tương quan dạng bậc xuống gần nên được xem là dạng tương quan lý tưởng ở bộ răng sữa thay cho dạng thẳng vì tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường của nhóm này là cao nhất trong ba dạng trên. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đánh giá và so sánh diễn tiến hình thái khớp cắn của nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng và bậc xuống gần trong quá trình phát triển của bộ răng. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng hay dạng bậc xuống gần là tương quan lý tưởng ở bộ răng sữa?”, từ đó có thể đưa ra kế hoạch theo dõi và can thiệp thích hợp cho từng nhóm giúp trẻ đạt được tương quan R6 hạng I bình thường ở bộ răng vĩnh viễn trong tương lai. Mục tiêu: So sánh diễn tiến hình thái khớp cắn giữa nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng và nhóm có tương quan dạng bậc xuống gần từ giai đoạn bộ răng sữa đến bộ răng hỗn hợp và bộ răng vĩnh viễn. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu dọc trên 48 tương quan mặt phẳng tận cùng dạng thẳng và 79 dạng bậc xuống gần ở bộ răng sữa, đánh giá và so sánh sự thay đổi tương quan của 2 nhóm này từ bộ răng sữa đến tương quan R6 ban đầu ở bộ răng hỗn hợp và tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn. Kết quả: Trong 48 trường hợp ở nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng, khi chuyển từ giai đoạn bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp, tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I và R6 hạng II 50% lần lượt là 15% và 85%. Khi chuyển từ giai đoạn bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn, 100% trường hợp tương quan R6 hạng I ở bộ răng hỗn hợp duy trì tương quan này ở bộ răng vĩnh viễn. Đối với nhóm có tương quan R6 hạng II 50% ở bộ răng hỗn hợp, khi chuyển sang bộ răng vĩnh viễn, 63% chuyển thành tương quan R6 hạng I và phần còn lại vẫn giữ nguyên tương quan hạng II 50% chiếm 37%. Như vậy, ở nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng, khi chuyển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I với tỉ lệ 69%, số ít còn lại sẽ chuyển thành hạng tương quan R6 hạng II 50% với tỉ lệ 31%. Đối với nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng dạng bậc xuống gần, khi chuyển từ giai đoạn bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp, tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I và R6 hạng II 50% lần lượt là 49% và 51%. Khi chuyển từ giai đoạn bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn, 85% tương quan R6 hạng I sẽ duy trì tương quan này, phần còn lại chuyển thành tương quan R6 hạng III và R6 hạng II 50%. Đối với tương quan R6 hạng II 50% ở bộ răng hỗn hợp, khi chuyển sang bộ răng vĩnh viễn, 80% sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I và phần còn lại vẫn giữ tương quan hạng II 50%. Tóm lại, khi chuyển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường với tỉ lệ 82%, 18% còn lại sẽ chuyển thành hạng tương quan R6 hạng II và hạng III. Kết luận: Trong quá trình phát triển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng bậc xuống gần đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường với tỉ lệ rất cao 82% và cao hơn so với 69% của nhóm dạng thẳng.
Title: TƯƠNG QUAN MẶT PHẲNG TẬN CÙNG RĂNG CỐI SỮA THỨ HAI DẠNG THẲNG HAY DẠNG BẬC XUỐNG GẦN LÀ TƯƠNG QUAN LÝ TƯỞNG Ở BỘ RĂNG SỮA?
Description:
Đặt vấn đề: Ở bộ răng sữa, có ba dạng tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai là dạng thẳng, dạng bậc xuống gần và dạng bậc xuống xa.
Trong đó, tương quan dạng thẳng được xem là dạng bình thường và là một trong những yếu tố của “khớp cắn lý tưởng” ở bộ răng sữa.
Tuy nhiên, vẫn có tỉ lệ cao từ 20-50% chuyển thành tương quan R6 hạng II bất thường ở bộ răng vĩnh viễn.
Chính vì thế, có nhiều tác giả cho rằng tương quan dạng bậc xuống gần nên được xem là dạng tương quan lý tưởng ở bộ răng sữa thay cho dạng thẳng vì tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường của nhóm này là cao nhất trong ba dạng trên.
Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đánh giá và so sánh diễn tiến hình thái khớp cắn của nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng và bậc xuống gần trong quá trình phát triển của bộ răng.
Chính vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng hay dạng bậc xuống gần là tương quan lý tưởng ở bộ răng sữa?”, từ đó có thể đưa ra kế hoạch theo dõi và can thiệp thích hợp cho từng nhóm giúp trẻ đạt được tương quan R6 hạng I bình thường ở bộ răng vĩnh viễn trong tương lai.
Mục tiêu: So sánh diễn tiến hình thái khớp cắn giữa nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng và nhóm có tương quan dạng bậc xuống gần từ giai đoạn bộ răng sữa đến bộ răng hỗn hợp và bộ răng vĩnh viễn.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu dọc trên 48 tương quan mặt phẳng tận cùng dạng thẳng và 79 dạng bậc xuống gần ở bộ răng sữa, đánh giá và so sánh sự thay đổi tương quan của 2 nhóm này từ bộ răng sữa đến tương quan R6 ban đầu ở bộ răng hỗn hợp và tương quan R6 ở bộ răng vĩnh viễn.
Kết quả: Trong 48 trường hợp ở nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng, khi chuyển từ giai đoạn bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp, tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I và R6 hạng II 50% lần lượt là 15% và 85%.
Khi chuyển từ giai đoạn bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn, 100% trường hợp tương quan R6 hạng I ở bộ răng hỗn hợp duy trì tương quan này ở bộ răng vĩnh viễn.
Đối với nhóm có tương quan R6 hạng II 50% ở bộ răng hỗn hợp, khi chuyển sang bộ răng vĩnh viễn, 63% chuyển thành tương quan R6 hạng I và phần còn lại vẫn giữ nguyên tương quan hạng II 50% chiếm 37%.
Như vậy, ở nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng thẳng, khi chuyển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I với tỉ lệ 69%, số ít còn lại sẽ chuyển thành hạng tương quan R6 hạng II 50% với tỉ lệ 31%.
Đối với nhóm có tương quan mặt phẳng tận cùng dạng bậc xuống gần, khi chuyển từ giai đoạn bộ răng sữa sang bộ răng hỗn hợp, tỉ lệ chuyển thành tương quan R6 hạng I và R6 hạng II 50% lần lượt là 49% và 51%.
Khi chuyển từ giai đoạn bộ răng hỗn hợp sang bộ răng vĩnh viễn, 85% tương quan R6 hạng I sẽ duy trì tương quan này, phần còn lại chuyển thành tương quan R6 hạng III và R6 hạng II 50%.
Đối với tương quan R6 hạng II 50% ở bộ răng hỗn hợp, khi chuyển sang bộ răng vĩnh viễn, 80% sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I và phần còn lại vẫn giữ tương quan hạng II 50%.
Tóm lại, khi chuyển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường với tỉ lệ 82%, 18% còn lại sẽ chuyển thành hạng tương quan R6 hạng II và hạng III.
Kết luận: Trong quá trình phát triển từ bộ răng sữa đến bộ răng vĩnh viễn, tương quan mặt phẳng tận cùng răng cối sữa thứ hai dạng bậc xuống gần đa số sẽ chuyển thành tương quan R6 hạng I bình thường với tỉ lệ rất cao 82% và cao hơn so với 69% của nhóm dạng thẳng.
Related Results
Đặc điểm xương cùng dị hình ở người Việt Nam trưởng thành
Đặc điểm xương cùng dị hình ở người Việt Nam trưởng thành
Đặt vấn đề: Xương cùng dị hình là biến thể có sự giới hạn của hành lang xương an toàn của S1 cho vít xuyên xương chậu – xuyên xương cùng, thể hiện qua một số đặc điểm hình dạng khá...
Tổng quan về cắt thực quản hiện đại
Tổng quan về cắt thực quản hiện đại
Tóm tắt
Mục tiêu: Trình bày tổng quan về cắt thực quản thời hiện đại.
Năm 1913, Franz John Torek (1861-1938) người Đức làm việc tại bệnh viện Lenox Hill, Newyork City, là người ...
KHẢO SÁT HÌNH THÁI XƯƠNG SÊN NGƯỜI VIỆT NAM
KHẢO SÁT HÌNH THÁI XƯƠNG SÊN NGƯỜI VIỆT NAM
Đặt vấn đề: Được thực hiện những năm 1970, thay khớp cổ chân hiện nay được xem niềm hy vọng trong việc cải thiện tình trạng đau và tầm vận động khớp cổ chân bị tổn thương nặng. Tuy...
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG PHÂN LOẠI RĂNG KHÔN THEO PELL VÀ GREGORY TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CÁI NƯỚC
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG PHÂN LOẠI RĂNG KHÔN THEO PELL VÀ GREGORY TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA CÁI NƯỚC
Đặt Vấn đề: Mô tả đặc điểm lâm sàng, X-quang răng khôn hàm dưới theo phân loại Pell, Gregory của bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bệnh viện Đa khoa Cái Nước. Đối tượng ...
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tắc mật do ung thư
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tắc mật do ung thư
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, một số xét nghiện cận lâm sàng ở bệnh nhân hẹp tắc đường mật ác tính. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả 88 bệnh nhân bị tắc m...
MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐA HÌNH GEN METHYLENE TETRAHYDROFOLATE REDUCTASE (MTHFR) C677T VỚI LOÃNG XƯƠNG Ở NAM GIỚI
MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐA HÌNH GEN METHYLENE TETRAHYDROFOLATE REDUCTASE (MTHFR) C677T VỚI LOÃNG XƯƠNG Ở NAM GIỚI
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng nồng độ homocystein huyết thanh và đa hình C677Tcủa gen MTHFR (Methylenetetrahydrofolate reductase)có liên quan đến loãng xương ở quần thể ngườ...
Tuân Thủ Điều Trị Ở Thai Phụ Có Thai Nhi Bị Tim Bẩm Sinh Được Quản Lý Giữa Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố Và Bệnh Viện Hùng Vương
Tuân Thủ Điều Trị Ở Thai Phụ Có Thai Nhi Bị Tim Bẩm Sinh Được Quản Lý Giữa Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố Và Bệnh Viện Hùng Vương
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở thai phụ có thai nhi bị tim bẩm sinh được quản lý giữa bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố và bệ...
Highmobility AlGaN/GaN high electronic mobility transistors on GaN homo-substrates
Highmobility AlGaN/GaN high electronic mobility transistors on GaN homo-substrates
Gallium nitride (GaN) has great potential applications in high-power and high-frequency electrical devices due to its superior physical properties.High dislocation density of GaN g...

